Bài Thơ: Em Là Ai Cô Gái Hay Nàng Tiên?

Thảo luận trong 'Văn Thơ' bắt đầu bởi Zero, 1 Tháng tư 2018.

  1. Zero

    Zero Active Member Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    758
    Bài thơ "Người con gái Việt Nam" của nhà thơ Tố Hữu được sáng tác vào ngày 7 tháng 12 năm 1958, nhằm tôn vinh tinh thần anh dũng của chị Trần Thị Lý, một nữ chiến sĩ cách mạng kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Mở đầu bằng câu hỏi "Em là ai? Cô gái hay nàng tiên", tác giả thể hiện sự ngưỡng mộ trước vẻ đẹp và phẩm chất phi thường của chị. Qua những hình ảnh ẩn dụ như "mái tóc em đây hay là mây là suối" và "đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông", bài thơ khắc họa sự kiên trung và bất khuất của người phụ nữ Việt Nam. Tố Hữu ca ngợi trái tim vĩ đại của chị Lý, người đã chịu đựng mọi hình thức tra tấn tàn bạo nhưng vẫn giữ vững lý tưởng cách mạng. Bài thơ kết thúc với niềm tin vào tương lai tươi sáng, khi chị sẽ "đứng trên đôi chân tuổi trẻ" và tiếp tục cống hiến cho quê hương. Tác phẩm không chỉ là lời tri ân đến chị Trần Thị Lý mà còn là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đấu tranh giành độc lập.

    [​IMG]

    Người con gái Việt Nam

    Em là ai?


    Cô gái hay nàng tiên

    Em có tuổi hay không có tuổi

    Mái tóc em đây, hay là mây là suối

    Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

    Thịt da em hay là sắt là đồng?

    Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt

    Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt

    Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh

    Trên mình em đau đớn cả thân cành

    Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!

    Ôi trái tim em trái tim vĩ đại

    Còn một giọt máu tươi còn đập mãi

    Không phải cho em. Cho lẽ phải trên đời

    Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!

    Từ cõi chết, em trở về, chói lọi

    Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi

    Em trở về, người con gái quang vinh

    Cả nước ôm em, khúc ruột của mình.

    Em đã sống, bởi vì em đã thắng

    Cả Nước bên em, quanh giường nệm trắng

    Hát cho em nghe như tiếng mẹ ngày xưa

    Sông Thu Bồn giọng hát đò đưa..

    Cả nước cho em, cho em tất cả

    Máu tiếp máu, cho lại hồng đôi má

    Cho mái tóc em xanh lại ngày xuân

    Cho thịt da em lại nở trắng ngần

    Em sẽ đứng trên đôi chân tuổi trẻ

    Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ

    Em sẽ đi, trên đường ấy thênh thang

    Như những ngày xưa, rực rỡ sao vàng!

    Ôi đôi mắt của em nhìn, rất đẹp

    Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thép

    Như quê em Gò Nổi, Kỳ Lam

    Hỡi em, người con gái Việt Nam!

    7-12-1958


    Tố Hữu

    Tặng người Nữ anh hùng dân tộc Trần Thị Lý


    [​IMG]

    Sự thật đằng sau bài thơ

    Giữa năm 1958, Bệnh viện Việt - Xô đã tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Tình trạng bệnh nhân: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục.

    Chị Trần Thị Lý tên thật là Trần Thị Nhâm, sinh năm 1933 ở Quảng Nam, tham gia hoạt động cách mạng và được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Năm 1956, chị bị địch bắt và thuyên chuyển qua rất nhiều nhà tù. Để khuất phục chị, bọn địch đã không từ bất cứ thủ đoạn tra tấn dã man tàn ác nào: Lấy móc sắt xuyên qua bàn chân rồi treo ngược lên xà nhà, lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt.. Sau hơn 2 năm giam cầm, tù đầy, tra tấn dã man mà không khai thác được gì, địch vứt chị Lý ra ngoài nhà lao vì tưởng chị đã chết.

    Giữa năm 1958, Bệnh viện Việt - Xô đã tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: "Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26kg. Tình trạng bệnh nhân: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục."

    Trần Thị Lý sinh năm 1933 tại Quảng Nam, bà tham gia Cách Mạng từ năm 12 tuổi. Trong giai đoạn từ 1951 - 1956, bà tham gia đường dây cán bộ nằm vùng và đã từng 2 lần bị bắt nhưng đều được tha vì không đủ chứng cứ. Năm 1956 bà bị chính quyền tay sai VNCH bắt lần thứ 3, bà bị tra tấn với những hình thức dã man nhất như: Điện giật, dùi đâm, đổ nước xà phòng, dùng dao cắt vú, dùng lửa nung bộ phận sinh dục đến nỗi bị mất khả năng sinh sản.. nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời.

    Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, phía chính quyền tay sai VNCH cho rằng bà không thể sống được nữa nên đem vứt bà ra ngoài nhà lao, bà may mắn thoát chết một cách hi hữu, được đồng đội bí mật đón về, chuyển sang Campuchia và được đưa ra Bắc chữa trị. Sự kiện Trần Thị Lý bị bắt, bị tra tấn ngoài sức tưởng tượng đã làm rúng động dư luận thế giới bấy giờ và nó bắt đầu châm ngòi cho cuộc chiến truyền thông giữa hai miền Nam Bắc.

    Ngay lập tức không lâu sau đó, 17 giờ ngày 25-10-1958, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội đã phát đi bản tin về Trần Thị Lý với nội dung: "Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập," sám hối "với những nhục hình dã man như: Lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục!"

    Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể: "Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn. Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi. Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực. Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo.. Chúng bắt tôi phải nhận tội" Thân cộng "và" Chống chính phủ quốc gia "của chúng!"

    Ngày 21-11-1958, 5 bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền tay sai Sài Gòn đối với Trần Thị Lý. Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn tiếp tục đăng ký vào thăm. Đài Phát thanh Hà Nội cũng phát đi lời của ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt–Anh rằng:

    "Tôi đã từng chứng kiến tội ác của bọn thực dân đối với nhân dân thuộc địa song tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam nỡ đối xử với người Việt Nam tàn tệ như thế. Với chính sách đàn áp dã man này, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất thối nát. Ủy ban Quốc tế tại Việt Nam cần lưu ý ngay đến vấn đề này, đó là nhiệm vụ của họ!"

    Khi nhà thơ Tố Hữu đến thăm Trần Thị Lý, ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động. Tháng 12-1958, bài thơ Người con gái Việt Nam của ông ra đời và sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng, gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế.

    "Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

    Em có tuổi hay không có tuổi

    Mái tóc em đây, là mây hay là suối

    Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

    Thịt da em hay là sắt là đồng?"

    "Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!"

    "Từ cõi chết, em trở về, chói lọi

    Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi

    Em trở về, người con gái quang vinh

    Cả nước ôm em, khúc ruột của mình."

    Lúc sinh thời, chị kể:

    "Lần thứ ba tôi bị bắt trong một đợt tấn công của địch ở địa phương tôi, và cũng là lần mà tôi phải chịu sự tra tấn tàn bạo nhất. Chúng giam tôi ở Hội An, trong một nhà lao chật ních những người kháng chiến.

    Hai tên công an lưu động của chính quyền Ngô Đình Diệm tên là Sáng và Lợi từ Sài Gòn đặc phái đến nhà lao Hội An cùng với bọn công an của quận như các tên: Lịch, Chanh, Khánh, Lương, Thôi, Tre.. liên tục tra tấn tôi hàng tháng trời. Chúng tuyên bố: Dùng phương pháp tra tấn Mỹ để đánh cho tiệt đường con cái, đánh cho tàn phế, đánh chết không đền mạng. Chúng lột trần tôi, căng người tôi lên một miếng ván, đổ nước xà phòng và một thứ nước bẩn thỉu nhất vào mồm, vào mũi tôi, rồi thay nhau đi giày đinh giẫm lên bụng, lên ngực tôi. Máu và nước ộc ra, tôi chết ngất nhiều lần. Chúng lấy móc sắt xiên ngang bàn chân tôi treo ngược lên xà nhà, dùng điện quay vào vú, vào cửa mình tôi, lấy dao xẻo từng mảng thịt ở đùi non, ở vú, ở bắt chân, ở cánh tay tôi, lấy thước thọc mạnh vào âm hộ tôi, bứt từng mảng tóc tôi và nắm tai tôi lôi đi hàng chục thước, rồi nung kìm sắt đỏ cặp vào các bắp thịt tôi, rứt ra từng miếng cháy xèo xèo.. Cứ thế, những hình thức tra tấn kéo dài hàng tháng trời, thân hình tôi đầy những vết thương. Mục đích của bọn tra tấn là bắt tôi phải nhận là thân cộng, là hoạt động chống lại Chính phủ quốc gia, phải vu cáo những người kháng chiến cũ.

    Và tất nhiên, chẳng bao giờ tôi - người con gái sông nước Thu Bồn lại nhận trước kẻ thù, rằng mình sẽ phản bội lại đồng bào, đồng chí, mặc dù luôn bị điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung.."

    Trong thời gian dưỡng bệnh ở Hà Nội, Trần Thị Lý có tình cảm với một thương binh đồng hương. Chồng chị là Thầy giáo Nguyễn Viết Tuấn. Tháng 3 năm 1978, khước từ mọi mai mối, bất chấp lời khuyên của chị Lý nên xây dựng hạnh phúc với những người con gái lành lặn khác, anh Tuấn vẫn quyết tâm xây dựng đời sống gia đình với chị. Và đám cưới của họ được tổ chức tại quê hương Đại Lộc. Tháng 5 năm 1978, Nguyễn Viết Tuấn tốt nghiệp ĐH Bách khoa Hà Nội rồi trở về Quảng Nam - Đà Nẵng làm CB giảng dạy ở khoa điện. Ngôi nhà 63 - đường Hải Phòng giữa lòng Đà Nẵng thân thương ghi dấu biết bao nhiêu là ý chí, nghị lực của cả hai để có được hơi ấm thực sự của hạnh phúc gia đình, trong đó, có cả tương lai của đứa con gái tên gọi Thùy Linh.

    Do bị tra tấn, chị mất khả năng sinh nở nên hai người nhận một con gái nuôi. Năm 1979, Trần Thị Lý từ Hà Nội về sống tại Đà Nẵng, trong điều kiện sức khỏe được phục hồi một phần. Gia cảnh gia đình thời gian đó khó khăn, nhiều năm liền sống trong căn nhà cấp 4. Chị mất vào ngày 20/11/1992 tại Đà Nẵng.

    Ở Đà Nẵng từng có cây cầu mang tên chị Trần Thị Lý. Đến nay, sau thời gian xuống cấp, cây cầu đã bị dỡ bỏ và được thay thế bởi một cây cầu dây văng hiện đại mang tên Nguyễn Văn Trỗi - Trần Thị Lý. Hình ảnh chị tô điểm thêm hồn thiêng sông núi, làm rạng ngời vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam. Chị cùng với bao anh hùng liệt sĩ khác đã hi sinh xương máu để dân tộc Việt Nam hôm nay được hưởng ngày Tết Độc Lập trọn vẹn.
     
    Admin thích bài này.
    Chỉnh sửa cuối: 28 Tháng mười một 2025
  2. Zero

    Zero Active Member Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    758

    Cảm nhận bài thơ Người Con Gái Việt Nam – Tố Hữu


    Bài thơ Người Con Gái Việt Nam của Tố Hữu là một bản anh hùng ca đẹp đẽ và xúc động về người phụ nữ Việt Nam trong thời chiến, đặc biệt viết tặng nữ anh hùng Trần Thị Lý. Những câu thơ của Tố Hữu chan chứa niềm tự hào, yêu thương và ngưỡng mộ trước vẻ đẹp kỳ lạ: Vừa dịu dàng, trong trẻo, vừa kiên cường, bất khuất đến phi thường.

    Người con gái trong bài thơ hiện lên như một biểu tượng lãng mạn của đất nước: Mái tóc, đôi mắt, thân thể đều được so sánh với thiên nhiên, mây trời, lửa giông, suối nguồn. Nhưng vẻ đẹp ấy lại được thử thách trong cơn ác mộng của chiến tranh, nơi dây điện, dùi đâm, dao cắt, lửa nung giày vò thân thể chị. Thế nhưng Tố Hữu không nhìn chị bằng ánh mắt thương hại, mà bằng sự kính phục tuyệt đối, bởi chị không gục ngã. Chị sống lại, đứng dậy, chói sáng như ngọn cờ đỏ gọi tên quê hương.

    Điều làm bài thơ trở nên đặc biệt là tình cảm của cả nước dành cho người con gái ấy. Không chỉ là chiến sĩ, chị còn là hình ảnh của ruột thịt, của quê hương, của mẹ, của dòng sông Thu Bồn. Người đọc cảm nhận rõ rằng sức mạnh giúp chị hồi sinh không chỉ là ý chí cá nhân, mà còn là tình yêu, niềm tin, hơi ấm của cả dân tộc.

    Bài thơ kết thúc bằng niềm tin vào tương lai: Chị sẽ trở lại, sẽ bước đi trên con đường thênh thang của đất nước hòa bình, đôi mắt vẫn sáng niềm tin như ánh thép. Người con gái ấy không chỉ là riêng một con người, mà là biểu tượng bất diệt của phụ nữ Việt Nam: Đẹp, dũng cảm, và rực rỡ như sao vàng trên bầu trời Tổ quốc.
     
  3. Zero

    Zero Active Member Thành viên BQT

    Bài viết:
    Tìm chủ đề
    758

    Phân tích bài thơ Người Con Gái Việt Nam – Tố Hữu


    Bài thơ mở đầu bằng loạt câu hỏi đầy tò mò và ngỡ ngàng:

    Em là ai?

    Cô gái hay nàng tiên

    Em có tuổi hay không có tuổi

    Mái tóc em đây, hay là mây là suối


    Những câu hỏi liên tiếp tạo ra cảm giác người con gái mang vẻ đẹp phi thường, vừa thực vừa ảo. Tố Hữu sử dụng những hình ảnh lãng mạn như mây, suối, lửa đêm giông để khắc họa vẻ đẹp mạnh mẽ, huyền thoại của chị:

    Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

    Đó không chỉ là đôi mắt con gái mà là ánh nhìn của ý chí, của sức sống mãnh liệt giữa bão tố chiến tranh.

    Nhưng vẻ đẹp ấy bị thử thách tàn khốc khi chị bị giặc tra tấn dã man:

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!


    Cặp câu thơ mang nhịp điệu mạnh, liệt kê dồn dập như mô tả sự tàn bạo đến cực điểm. Thế nhưng sau tất cả, chị vẫn sống. Cái sống ở đây không đơn thuần là sự tồn tại của thể xác, mà là chiến thắng của tinh thần, của lòng yêu nước.

    Hình ảnh trái tim được Tố Hữu nâng lên tầm biểu tượng:

    Ôi trái tim em trái tim vĩ đại

    Còn một giọt máu tươi còn đập mãi

    Không phải cho em. Cho lẽ phải trên đời

    Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!


    Trái tim ấy vượt khỏi mức độ cảm xúc cá nhân, trở thành trái tim của dân tộc, của chính nghĩa. Đây là đoạn thơ mang tính nhân văn và lý tưởng cao nhất của bài.

    Sau đó, bài thơ chuyển sang không khí ấm áp, chan hòa tình người:

    Cả nước ôm em, khúc ruột của mình

    Em đã sống, bởi vì em đã thắng


    Người con gái không chỉ là một cá nhân, mà là đứa con của cả nước. Khi chị nằm trên giường bệnh, cả dân tộc trao cho chị máu, hơi ấm, tình thương để chị hồi sinh. Đây là hình ảnh tiêu biểu cho sức mạnh cộng đồng trong kháng chiến.

    Tố Hữu cũng mở ra niềm hy vọng vào tương lai:

    Em sẽ đứng trên đôi chân tuổi trẻ

    Đôi gót đỏ lại trở về quê mẹ

    Em sẽ đi, trên đường ấy thênh thang

    Như những ngày xưa, rực rỡ sao vàng!


    Niềm tin ấy khiến bài thơ không chỉ là khúc ca bi tráng mà còn là bản tuyên ngôn của sự sống, của chiến thắng và của tương lai tươi sáng.

    Kết bài, Tố Hữu khẳng định lần nữa vẻ đẹp của người con gái Việt Nam:

    Ôi đôi mắt của em nhìn, rất đẹp

    Hãy sáng mãi niềm tin tươi ánh thép


    Đôi mắt ấy không chỉ đẹp vì hình dáng, mà đẹp vì chứa đựng niềm tin, sức mạnh, lý tưởng, và ánh thép của một dân tộc không bao giờ khuất phục.

    Bài thơ kết thúc bằng tiếng gọi:

    Hỡi em, người con gái Việt Nam!

    Tiếng gọi vừa tha thiết, vừa tự hào, như gọi tên một biểu tượng gắn liền với lịch sử đấu tranh của đất nước.
     
Từ Khóa:

Chia sẻ trang này

Đang tải...