Zero

Active Member
Thành viên BQT
Credits
0
182 ❤︎ Bài viết: 782 Tìm chủ đề
Đọc: 1,818 Tìm: 0
Gửi vợ miền Nam

Thư một bức nghìn lời tâm huyết

Đêm canh dài thức viết cho em.

Bồi hồi máu ứ trong tim

Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này.

Thư mọc cánh thư bay khắp ngả

Rộn muôn lòng, hoa lá xôn xao

Thư đi núi thẳm đèo cao

Bay qua giới tuyến đậu vào tay em

Em bắt được hàng đêm em đọc

Cánh thư vàng em thuộc từng câu

Ru con thềm vắng canh thâu

Nghe trong tiếng hát tình nhau thơm lành

Nhớ lại buổi chúng mình gặp gỡ

Xanh bóng dừa bỡ ngỡ nhìn nhau.

Cắn môi chẳng nói lên câu

Ai hồng đôi má nghiêng đầu làm thinh.

Đường công tác thuyền anh ghé bến

Anh ngập ngừng em thẹn quay đi

Mẹ cười mẹ chẳng nói chi

Đã người kháng chiến mẹ thì cho không

Khỏi mai mối, cũng không lễ lạt

Đám cưới mình tiếng hát vang sông

Trầu xanh têm với vôi hồng

Đêm trăng xuân ấy vợ chồng sánh đôi..

Gia đình em mười người giặc giết

Tám năm ròng nối tiếp khăn tang.

Thương anh mẹ nghĩ thêm rằng:

Thù nhà nợ nước đôi đằng vẹn đôi..

Đời chiến đấu thêm tươi thêm đẹp

Thêm mặn nồng thắm thiết thơ anh.

Lứa đôi tuổi trẻ đầu xanh

Trọn tình yêu nước, vẹn tình yêu nhau

Trăng hè giãi sáng màu áo cưới

Gió hương bay hoa bưởi thơm lừng

Ghé tai em báo tin mừng:

"Nói riêng anh biết, anh đừng khoe ai!"

Trải chín tháng mười ngày mong mỏi

Sớm đầu xuân ấy buổi khai hoa

Hương Mai tên xóm quê nhà

Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai

Anh nghỉ phép đôi ngày đốn củi

Em chong đèn đốt muỗi cho con.

Chuyền tay chồng nựng vợ hôn

Tổ êm biếc bóng cây vườn đung đưa..

Buổi trứng nước con chưa rụng rốn

Máy bay quần vẫn loạn tiếng bom

Em thì tuần cữ còn non

Một ngày bốn lượt ôm con xuống hầm

Lửa giặc cháy đỏ bầm thân cột

Xe giặc càn tím ruột đồng xanh

Con thơ giấc ngủ không lành

Mếu thầm từng chập, giật mình từng cơn.

Mẹ tất tưởi giục con giục rể

Thôi cửa nhà mẹ kể như không

Đương đêm mẹ tắt đường đồng

Tay ôm thóc giống tay bồng cháu thơ

Ngợp bóng lá rừng thưa lay động

Cháy ruột chờ tiếng súng quê ta

Hai hôm mẹ đã nhớ nhà

Nghĩ thương con lợn con gà đói ăn.

Mũi chông nhọn giăng giăng nửa bước

Lưỡi dao dài chém, gọt đầu Tây

Thâu đêm đuốc sáng đường cày

Dân làng đào huyệt vùi thây quân thù.

Vách lá mới tươi cờ Tổ quốc

Xuồng hành quân mát nước sông xa

Mẹ ngồi thức mấy canh gà

Gói thêm bánh tét gửi ra chiến trường

Anh tập kích hạ đồn Ngã Bảy

Em vần công phát rẫy Kinh Ba

Hương Mai quấn quýt bên bà

Mẹ cưng cháu nhỏ tuổi già thêm vui..

Lửa Điện Biên đỏ trời phương Bắc

Gió hòa bình thổi mát xóm thôn

Em vâng tiếng gọi nước non

Đưa anh theo bóng cờ son lên đường.

Em trở giấc trăng nghiêng nửa gối

Mẹ chống rèm, sương gội vườn cam

Ngước trông một mảnh trời Nam

Ngôi sao Bắc Đẩu ngày càng tỏ thêm.

Mẹ chân cứng đá mềm chờ đợi

Em khăng khăng đứng mũi chịu sào

Chín năm xương trắng máu đào

Lẽ đâu lại chịu công lao dã tràng.

Bọn buôn máu cam làm nô lệ

Rước thằng đao phủ Mỹ vào nhà

Miền Nam yêu quý đôi ta

Vườn cam ruộng lúa thành ra pháp trường

Chợ Mỹ Lược khăn tang trắng xóa

Đập Vĩnh Trinh cánh quạ đen ngòm

Khe A Chê máu đỏ lòm

Lệ rơi xuống bến Thu Bồn chứa chan

Em chẳng được đi bàn đi họp

Con hết mong nhảy nhót nô cười

Mẹ già ôm cháu nghẹn lời

Bóng đen quỷ sứ che trời âm u

Người đang gặt bỗng tù bỗng tội

Người đang ăn chết vội chết vàng

Người vừa đưa bạn sang ngang

Mái chèo chưa ráo hồn oan đã lìa

Người mẹ trẻ gần kỳ sinh nở

Đêm ngồi may áo lụa cho con

Sáng ngày chết gục đầu thôn

Cái thai trong bụng nghe còn đạp đây

Em mười bảy cổ tay trắng nõn

Lựa chỉ thêu thầm chọn người thương

Lõa lồ phơi xác bên đường

Tay em còn nắm chặt vuông khăn hồng

Lớp mới giảng nó giằng xé vở

Chùa mới xây nó gỡ đem đi

Nó tung thuốc độc bùa mê

Cấm ngăn thương nhớ cắt chia ruột rà

Anh đã thấy mẹ già mạnh bước

Gậy vững tay trong cuộc tuần hành

Thấy em trong đám biểu tình

Má đào ửng đỏ mắt xanh sáng ngời

Muôn tiếng thét cùng đòi thống nhất

Muôn lời hô phải lập hiệp thương

Đôi bờ một dải Hiền Lương

Phải cho chung bến liền đường Bắc Nam

Cho Sa Đéc thơm cam Bố Hạ

Cho Hải Phòng đẹp lụa Tân Châu

Núi sông sát cánh kề đầu

Ruộng đồng bát ngát một màu lúa xanh

Anh đã thấy con mình thơ bé

Quấn cờ son bảo vệ lấy cờ

Đồng bào từ chuyện tóc tơ

Phanh phui kế hiểm ngăn ngừa mưu sâu

Mấy gian khổ chẳng nao dạ sắt

Bao tù đày chẳng tắt niềm tin

Tháp Mười đẹp nhất bông sen

Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ

Cau nở bẹ dừa tơ lớn đọt

Xoài thơm hương cam ngọt trĩu cành

Cây vườn ngày một thêm xanh

Trái ngon thêm ngọt chờ anh trở về

Dạ canh cánh tình kia nghĩa nọ

Mắt đăm đăm ngoài đó trong này

Lòng ta biển rộng sông dài

Tát hoài chẳng cạn chảy hoài chẳng ngưng

Muối đã mặn ba năm còn mặn

Gừng đã cay chín tháng còn cay

Lời thề năm ấy còn đây

Còn ta ta phải còn ngày đoàn viên

Giấc mộng đẹp qua nghìn vạn dặm

Gối chăn này vẫn ấm hơi em

Đầu cành ríu rít tiếng chim

Giật mình trông hút bóng em xa dần

Trải ngày tháng trăng xuân gió hạ

Giấc chiêm bao nhắc nhở anh hoài

Mây đen còn nửa phương trời

Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi riêng anh

Tin trong ấy đấu tranh thắng lợi

Nghe mà mừng như cởi ruột gan

Một lòng bắc cũng như nam

Có em trong ấy anh càng vững tâm

Ta những tưởng hai năm đoàn tụ

Mà vì đâu để lỡ hẹn hò

Vì ai tháng đợi năm chờ

Hồng thưa nhạn vắng đôi bờ cách ngăn

Ai chia rẽ kẻ Nam người Bắc?

Mảnh trăng tròn ai cắt làm đôi?

Ai làm máu đổ, lệ rơi?

Ai đang rấp ngõ, ai xui phá cầu?

Vui đất Bắc còi tàu, xưởng máy

Loạn miền Nam lửa cháy rui nhà

Ngoài này đẹp lúa tươi hoa

Thương em trong ấy khổ ba bốn tầng

Đoàn trẻ nhỏ bước chân lẫm chẫm

Mặt hồ Gươm lấm tấm hoa ngâu.

Quản chi sóng cả sông sâu

Tay ta lại bắc nhịp cầu ta qua.

Cầu nối nhịp duyên ta tròn vẹn

Dòng Hiền Lương mát bến xuôi đò

Con sông vẫn đẹp đôi bờ

Tấm lòng có một cơ đồ không hai.

Thư em viết mấy lời thắm thiết

Ấm lòng anh chi xiết mấy mươi

"Giữa mùa lúa chín hoa tươi

Anh tin tưởng thế, em người vợ anh".

Nghĩ đến buổi nước mình thống nhất

Lệ tuôn trào khoé mắt rưng rưng

Dạt dào trăm nhớ ngàn thương

Anh về hoa nở con đường thênh thênh

Anh sẽ đón gia đình ra Bắc

Vợ chồng mình dạo khắp thủ đô

Con ta được gặp Bác Hồ

Mẹ ta được vãn cảnh chùa Ngọc Sơn.

Xe lửa ghe nông trường Phú Thọ

Tàu thuỷ thăm vùng mỏ Quảng Yên

Tám thơm cũng thể nàng tiên

Sen Hồ Tây ngát như sen Tháp Mười

Vui sum họp mẹ tươi trẻ lại

Mừng đoàn viên em mãi đẹp ra

Rõ ràng giáp mặt đôi ta

Đắng cay trải đấy, mặn mà xiết bao.

Cùng ôn lại năm tao bảy tuyết

Càng xa nhau càng biết lòng nhau

Mấy thu nắng lửa mưa dầu

Tâm tình vẫn thắm mái đầu vẫn xanh

Cùng trở lại quê mình vườn cũ

Dấu đạn thù còn trổ thân cây

Nhà ta ta lại sum vầy

Lại gieo mạ nếp, lại gây giống dừa

Con mỗi buổi học về múa hát

Đêm trăng vàng ngan ngát hương cau

Mẹ già ngừng giã cối trầu

Mỉm cười nhẩm tính tháng nào em sinh?

Vườn xanh tốt đâm cành nảy lộc

Hoa đầy vườn chim chóc đến bay.

Em mà nằm cữ chuyến này

Khỏi lo con chạy máy bay giặc ruồng

Con bé bỏng thơm ngon giấc ngủ

Hé môi non cười nụ hồng hồng

May hơn chị nó đầu lòng

Nó sinh gặp lúc non sông yên lành

Đời thêm đẹp mối tình thêm thắm

Nắng nông trường đỏ sẫm da cam

Tháng giêng lúa trĩu bông vàng

Em trên máy giặt khăn rằn gió bay.

Chiều chủ nhật xanh mây biếc gió

Tay nắm tay đi giữa Sài Gòn

Lo màu chọn kiểu áo con

Sách in nét chữ tươi giòn thơ anh.

Ngày kỷ niệm hòa bình hạnh phúc

Anh thả bè thuỷ lục tươi hoa

Làng trên xóm dưới vui ca

Mặt sông pháo nổ, mái nhà sao bay.

Mẹ đi hội vui bầy cháu nhỏ

Em bên anh má đỏ bóng cờ

Tưng bừng tiếng trúc tiếng tơ

Đầu thôn trăng mọc tròn như mâm vàng..



Hà Nội, 7 - 1956

Nguyễn Bính

Trích đoạn bài thơ này được sử dụng trong sách giáo khoa Tập đọc lớp 4.


Cảm nhận bài thơ Gửi người vợ miền Nam – Nguyễn Bính

Gửi người vợ miền Nam là một bài thơ rất dài, nhưng không hề loãng. Trái lại, càng đọc càng thấy dày lên cảm xúc, dày lên lịch sử và dày lên tình người. Đây không chỉ là một bức thư tình, mà là một thiên trường ca về tình yêu vợ chồng hòa trong vận mệnh dân tộc, về hạnh phúc riêng gắn chặt với nỗi đau chung của đất nước bị chia cắt.

Điều lay động nhất trong bài thơ là sự thủy chung son sắt. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính không tách rời hiện thực khốc liệt của chiến tranh, không né tránh máu lửa, mất mát, chia ly. Người vợ miền Nam hiện lên vừa là người phụ nữ của gia đình, vừa là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời loạn: chịu đựng, kiên cường, dấn thân, và trung trinh tuyệt đối với cả tình yêu lẫn Tổ quốc. Người chồng ở miền Bắc không chỉ nhớ thương, mà còn gửi vào từng dòng thơ niềm tin, lời thề và khát vọng đoàn viên.

Bài thơ khiến người đọc xúc động bởi sự đan xen giữa những khoảnh khắc rất đời thường – cưới hỏi, sinh con, bếp lửa, nồi cháo, mùi hoa bưởi – với những cảnh tượng tàn khốc của chiến tranh, bom đạn, tù đày, máu đổ. Chính sự đan xen ấy làm cho tình yêu trong bài thơ trở nên lớn lao mà vẫn gần gũi, thiêng liêng mà vẫn rất người.

Gửi người vợ miền Nam không chỉ là lời nhắn gửi riêng tư, mà là tiếng nói của hàng triệu con người Việt Nam từng yêu, từng chờ đợi, từng chịu đựng trong những năm tháng đất nước chia đôi. Đó là một bài thơ đau, nhưng không tuyệt vọng; dài, nhưng không mệt; bi thương, nhưng luôn hướng về ngày đoàn viên tất yếu.

Đọc hiểu bài thơ:


Bài thơ "Gửi vợ miền Nam" của Nguyễn Bính là một bản trường ca bằng thơ lục bát, ra đời vào tháng 7/1956 – thời điểm mà niềm hy vọng về một cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève đang bị lung lay bởi sự chia cắt hai miền.

Dưới đây là phần đọc hiểu chi tiết để giúp bạn nắm bắt trọn vẹn giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:

1. Hoàn cảnh sáng tác và Cảm xúc chủ đạo

Hoàn cảnh: Sau năm 1954, những người con miền Nam tập kết ra Bắc, để lại gia đình, vợ con với lời hẹn hai năm sẽ trở về. Nhưng sự bội ước của kẻ thù đã khiến đôi miền chia cắt.

Cảm xúc chủ đạo: Niềm thương nhớ da diết của người chồng (ở miền Bắc) gửi cho vợ (ở miền Nam), lòng căm thù giặc tàn ác và khát vọng cháy bỏng về ngày thống nhất, đoàn viên.

2. Phân tích nội dung chính

A. Ký ức về tình yêu và gia đình (Phần đầu)

Nguyễn Bính đã dành những vần thơ ngọt ngào nhất để gợi lại kỷ niệm. Tình yêu của họ nảy nở trong kháng chiến:

Cuộc gặp gỡ: Đơn sơ nhưng đậm chất Nam Bộ với "bóng dừa", "thuyền ghé bến", "mẹ cho không"

Sự gắn kết: Tình yêu cá nhân hòa quyện chặt chẽ với tình yêu nước ( "Thù nhà nợ nước đôi đằng vẹn đôi")

Đứa con đầu lòng: Bé Hương Mai ra đời giữa tiếng bom đạn, lớn lên trong sự che chở của mẹ già và sự dũng cảm của người vợ.

B. Thực tại chia cắt và tội ác của kẻ thù (Phần giữa)

Đây là đoạn thơ đau xót và dữ dội nhất, phơi bày hiện thực miền Nam dưới ách thống trị:

  • Sự chia cắt: Hình ảnh "Dòng Hiền Lương", "Mảnh trăng tròn ai cắt làm đôi" tượng trưng cho nỗi đau ngăn sông cách núi.
  • Tội ác: Tác giả liệt kê những địa danh đẫm máu (Mỹ Lược, Vĩnh Trinh, Khe A Chê) và những hình ảnh gây chấn động: Cụ già bị tù tội, người mẹ trẻ chết gục khi thai còn đạp, cô gái mười bảy bị hãm hại..
  • Sức mạnh quật khởi: Dù đau thương, người vợ và mẹ già vẫn kiên cường trong các cuộc biểu tình, "đứng mũi chịu sào" chờ ngày giải phóng.

C. Khát vọng và viễn cảnh ngày thống nhất (Phần kết)

Bài thơ khép lại bằng một giấc mơ rực rỡ và hạnh phúc:

Lời thề son sắt: "Muối đã mặn ba năm còn mặn / Gừng đã cay chín tháng còn cay".

Bức tranh tương lai: Con được gặp Bác Hồ, mẹ vãn cảnh chùa Ngọc Sơn, cả gia đình dạo bước giữa Sài Gòn.

Biểu tượng: Hình ảnh "trăng mọc tròn như mâm vàng" ở cuối bài thể hiện sự viên mãn, trọn vẹn của đất nước và tình cảm lứa đôi.

3. Đặc sắc nghệ thuật

Thể thơ lục bát: Nguyễn Bính sử dụng thể thơ truyền thống một cách điêu luyện, tạo âm hưởng tâm tình, thủ thỉ như lời tâm sự, dễ đi vào lòng người.

Ngôn ngữ: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự mộc mạc của ca dao (muối mặn, gừng cay) và sự sắc sảo của bút pháp hiện thực.

Cấu trúc đối lập: Đối lập giữa Bắc - Nam (hòa bình - lửa cháy), giữa Quá khứ - Hiện tại - Tương lai để làm nổi bật chủ đề tư tưởng.

4. Ý nghĩa thông điệp

Bài thơ không chỉ là tiếng lòng riêng của Nguyễn Bính mà là tiếng nói chung của hàng vạn gia đình tập kết. Nó khẳng định một chân lý: Tình cảm gia đình và tình yêu đôi lứa chính là sức mạnh tinh thần to lớn để người lính vững tay súng, người dân vững niềm tin vào ngày mai thống nhất.
 

Những người đang xem chủ đề này

Xu hướng nội dung

Back