Gửi vợ miền Nam
Thư một bức nghìn lời tâm huyết
Đêm canh dài thức viết cho em.
Bồi hồi máu ứ trong tim
Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này.
Thư mọc cánh thư bay khắp ngả
Rộn muôn lòng, hoa lá xôn xao
Thư đi núi thẳm đèo cao
Bay qua giới tuyến đậu vào tay em
Em bắt được hàng đêm em đọc
Cánh thư vàng em thuộc từng câu
Ru con thềm vắng canh thâu
Nghe trong tiếng hát tình nhau thơm lành
Nhớ lại buổi chúng mình gặp gỡ
Xanh bóng dừa bỡ ngỡ nhìn nhau.
Cắn môi chẳng nói lên câu
Ai hồng đôi má nghiêng đầu làm thinh.
Đường công tác thuyền anh ghé bến
Anh ngập ngừng em thẹn quay đi
Mẹ cười mẹ chẳng nói chi
Đã người kháng chiến mẹ thì cho không
Khỏi mai mối, cũng không lễ lạt
Đám cưới mình tiếng hát vang sông
Trầu xanh têm với vôi hồng
Đêm trăng xuân ấy vợ chồng sánh đôi..
Gia đình em mười người giặc giết
Tám năm ròng nối tiếp khăn tang.
Thương anh mẹ nghĩ thêm rằng:
Thù nhà nợ nước đôi đằng vẹn đôi..
Đời chiến đấu thêm tươi thêm đẹp
Thêm mặn nồng thắm thiết thơ anh.
Lứa đôi tuổi trẻ đầu xanh
Trọn tình yêu nước, vẹn tình yêu nhau
Trăng hè giãi sáng màu áo cưới
Gió hương bay hoa bưởi thơm lừng
Ghé tai em báo tin mừng:
"Nói riêng anh biết, anh đừng khoe ai!"
Trải chín tháng mười ngày mong mỏi
Sớm đầu xuân ấy buổi khai hoa
Hương Mai tên xóm quê nhà
Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai
Anh nghỉ phép đôi ngày đốn củi
Em chong đèn đốt muỗi cho con.
Chuyền tay chồng nựng vợ hôn
Tổ êm biếc bóng cây vườn đung đưa..
Buổi trứng nước con chưa rụng rốn
Máy bay quần vẫn loạn tiếng bom
Em thì tuần cữ còn non
Một ngày bốn lượt ôm con xuống hầm
Lửa giặc cháy đỏ bầm thân cột
Xe giặc càn tím ruột đồng xanh
Con thơ giấc ngủ không lành
Mếu thầm từng chập, giật mình từng cơn.
Mẹ tất tưởi giục con giục rể
Thôi cửa nhà mẹ kể như không
Đương đêm mẹ tắt đường đồng
Tay ôm thóc giống tay bồng cháu thơ
Ngợp bóng lá rừng thưa lay động
Cháy ruột chờ tiếng súng quê ta
Hai hôm mẹ đã nhớ nhà
Nghĩ thương con lợn con gà đói ăn.
Mũi chông nhọn giăng giăng nửa bước
Lưỡi dao dài chém, gọt đầu Tây
Thâu đêm đuốc sáng đường cày
Dân làng đào huyệt vùi thây quân thù.
Vách lá mới tươi cờ Tổ quốc
Xuồng hành quân mát nước sông xa
Mẹ ngồi thức mấy canh gà
Gói thêm bánh tét gửi ra chiến trường
Anh tập kích hạ đồn Ngã Bảy
Em vần công phát rẫy Kinh Ba
Hương Mai quấn quýt bên bà
Mẹ cưng cháu nhỏ tuổi già thêm vui..
Lửa Điện Biên đỏ trời phương Bắc
Gió hòa bình thổi mát xóm thôn
Em vâng tiếng gọi nước non
Đưa anh theo bóng cờ son lên đường.
Em trở giấc trăng nghiêng nửa gối
Mẹ chống rèm, sương gội vườn cam
Ngước trông một mảnh trời Nam
Ngôi sao Bắc Đẩu ngày càng tỏ thêm.
Mẹ chân cứng đá mềm chờ đợi
Em khăng khăng đứng mũi chịu sào
Chín năm xương trắng máu đào
Lẽ đâu lại chịu công lao dã tràng.
Bọn buôn máu cam làm nô lệ
Rước thằng đao phủ Mỹ vào nhà
Miền Nam yêu quý đôi ta
Vườn cam ruộng lúa thành ra pháp trường
Chợ Mỹ Lược khăn tang trắng xóa
Đập Vĩnh Trinh cánh quạ đen ngòm
Khe A Chê máu đỏ lòm
Lệ rơi xuống bến Thu Bồn chứa chan
Em chẳng được đi bàn đi họp
Con hết mong nhảy nhót nô cười
Mẹ già ôm cháu nghẹn lời
Bóng đen quỷ sứ che trời âm u
Người đang gặt bỗng tù bỗng tội
Người đang ăn chết vội chết vàng
Người vừa đưa bạn sang ngang
Mái chèo chưa ráo hồn oan đã lìa
Người mẹ trẻ gần kỳ sinh nở
Đêm ngồi may áo lụa cho con
Sáng ngày chết gục đầu thôn
Cái thai trong bụng nghe còn đạp đây
Em mười bảy cổ tay trắng nõn
Lựa chỉ thêu thầm chọn người thương
Lõa lồ phơi xác bên đường
Tay em còn nắm chặt vuông khăn hồng
Lớp mới giảng nó giằng xé vở
Chùa mới xây nó gỡ đem đi
Nó tung thuốc độc bùa mê
Cấm ngăn thương nhớ cắt chia ruột rà
Anh đã thấy mẹ già mạnh bước
Gậy vững tay trong cuộc tuần hành
Thấy em trong đám biểu tình
Má đào ửng đỏ mắt xanh sáng ngời
Muôn tiếng thét cùng đòi thống nhất
Muôn lời hô phải lập hiệp thương
Đôi bờ một dải Hiền Lương
Phải cho chung bến liền đường Bắc Nam
Cho Sa Đéc thơm cam Bố Hạ
Cho Hải Phòng đẹp lụa Tân Châu
Núi sông sát cánh kề đầu
Ruộng đồng bát ngát một màu lúa xanh
Anh đã thấy con mình thơ bé
Quấn cờ son bảo vệ lấy cờ
Đồng bào từ chuyện tóc tơ
Phanh phui kế hiểm ngăn ngừa mưu sâu
Mấy gian khổ chẳng nao dạ sắt
Bao tù đày chẳng tắt niềm tin
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Cau nở bẹ dừa tơ lớn đọt
Xoài thơm hương cam ngọt trĩu cành
Cây vườn ngày một thêm xanh
Trái ngon thêm ngọt chờ anh trở về
Dạ canh cánh tình kia nghĩa nọ
Mắt đăm đăm ngoài đó trong này
Lòng ta biển rộng sông dài
Tát hoài chẳng cạn chảy hoài chẳng ngưng
Muối đã mặn ba năm còn mặn
Gừng đã cay chín tháng còn cay
Lời thề năm ấy còn đây
Còn ta ta phải còn ngày đoàn viên
Giấc mộng đẹp qua nghìn vạn dặm
Gối chăn này vẫn ấm hơi em
Đầu cành ríu rít tiếng chim
Giật mình trông hút bóng em xa dần
Trải ngày tháng trăng xuân gió hạ
Giấc chiêm bao nhắc nhở anh hoài
Mây đen còn nửa phương trời
Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi riêng anh
Tin trong ấy đấu tranh thắng lợi
Nghe mà mừng như cởi ruột gan
Một lòng bắc cũng như nam
Có em trong ấy anh càng vững tâm
Ta những tưởng hai năm đoàn tụ
Mà vì đâu để lỡ hẹn hò
Vì ai tháng đợi năm chờ
Hồng thưa nhạn vắng đôi bờ cách ngăn
Ai chia rẽ kẻ Nam người Bắc?
Mảnh trăng tròn ai cắt làm đôi?
Ai làm máu đổ, lệ rơi?
Ai đang rấp ngõ, ai xui phá cầu?
Vui đất Bắc còi tàu, xưởng máy
Loạn miền Nam lửa cháy rui nhà
Ngoài này đẹp lúa tươi hoa
Thương em trong ấy khổ ba bốn tầng
Đoàn trẻ nhỏ bước chân lẫm chẫm
Mặt hồ Gươm lấm tấm hoa ngâu.
Quản chi sóng cả sông sâu
Tay ta lại bắc nhịp cầu ta qua.
Cầu nối nhịp duyên ta tròn vẹn
Dòng Hiền Lương mát bến xuôi đò
Con sông vẫn đẹp đôi bờ
Tấm lòng có một cơ đồ không hai.
Thư em viết mấy lời thắm thiết
Ấm lòng anh chi xiết mấy mươi
"Giữa mùa lúa chín hoa tươi
Anh tin tưởng thế, em người vợ anh".
Nghĩ đến buổi nước mình thống nhất
Lệ tuôn trào khoé mắt rưng rưng
Dạt dào trăm nhớ ngàn thương
Anh về hoa nở con đường thênh thênh
Anh sẽ đón gia đình ra Bắc
Vợ chồng mình dạo khắp thủ đô
Con ta được gặp Bác Hồ
Mẹ ta được vãn cảnh chùa Ngọc Sơn.
Xe lửa ghe nông trường Phú Thọ
Tàu thuỷ thăm vùng mỏ Quảng Yên
Tám thơm cũng thể nàng tiên
Sen Hồ Tây ngát như sen Tháp Mười
Vui sum họp mẹ tươi trẻ lại
Mừng đoàn viên em mãi đẹp ra
Rõ ràng giáp mặt đôi ta
Đắng cay trải đấy, mặn mà xiết bao.
Cùng ôn lại năm tao bảy tuyết
Càng xa nhau càng biết lòng nhau
Mấy thu nắng lửa mưa dầu
Tâm tình vẫn thắm mái đầu vẫn xanh
Cùng trở lại quê mình vườn cũ
Dấu đạn thù còn trổ thân cây
Nhà ta ta lại sum vầy
Lại gieo mạ nếp, lại gây giống dừa
Con mỗi buổi học về múa hát
Đêm trăng vàng ngan ngát hương cau
Mẹ già ngừng giã cối trầu
Mỉm cười nhẩm tính tháng nào em sinh?
Vườn xanh tốt đâm cành nảy lộc
Hoa đầy vườn chim chóc đến bay.
Em mà nằm cữ chuyến này
Khỏi lo con chạy máy bay giặc ruồng
Con bé bỏng thơm ngon giấc ngủ
Hé môi non cười nụ hồng hồng
May hơn chị nó đầu lòng
Nó sinh gặp lúc non sông yên lành
Đời thêm đẹp mối tình thêm thắm
Nắng nông trường đỏ sẫm da cam
Tháng giêng lúa trĩu bông vàng
Em trên máy giặt khăn rằn gió bay.
Chiều chủ nhật xanh mây biếc gió
Tay nắm tay đi giữa Sài Gòn
Lo màu chọn kiểu áo con
Sách in nét chữ tươi giòn thơ anh.
Ngày kỷ niệm hòa bình hạnh phúc
Anh thả bè thuỷ lục tươi hoa
Làng trên xóm dưới vui ca
Mặt sông pháo nổ, mái nhà sao bay.
Mẹ đi hội vui bầy cháu nhỏ
Em bên anh má đỏ bóng cờ
Tưng bừng tiếng trúc tiếng tơ
Đầu thôn trăng mọc tròn như mâm vàng..
Hà Nội, 7 - 1956
Nguyễn Bính
Trích đoạn bài thơ này được sử dụng trong sách giáo khoa Tập đọc lớp 4.
Cảm nhận bài thơ Gửi người vợ miền Nam – Nguyễn Bính
Gửi người vợ miền Nam là một bài thơ rất dài, nhưng không hề loãng. Trái lại, càng đọc càng thấy dày lên cảm xúc, dày lên lịch sử và dày lên tình người. Đây không chỉ là một bức thư tình, mà là một thiên trường ca về tình yêu vợ chồng hòa trong vận mệnh dân tộc, về hạnh phúc riêng gắn chặt với nỗi đau chung của đất nước bị chia cắt.
Điều lay động nhất trong bài thơ là sự thủy chung son sắt. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính không tách rời hiện thực khốc liệt của chiến tranh, không né tránh máu lửa, mất mát, chia ly. Người vợ miền Nam hiện lên vừa là người phụ nữ của gia đình, vừa là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời loạn: chịu đựng, kiên cường, dấn thân, và trung trinh tuyệt đối với cả tình yêu lẫn Tổ quốc. Người chồng ở miền Bắc không chỉ nhớ thương, mà còn gửi vào từng dòng thơ niềm tin, lời thề và khát vọng đoàn viên.
Bài thơ khiến người đọc xúc động bởi sự đan xen giữa những khoảnh khắc rất đời thường – cưới hỏi, sinh con, bếp lửa, nồi cháo, mùi hoa bưởi – với những cảnh tượng tàn khốc của chiến tranh, bom đạn, tù đày, máu đổ. Chính sự đan xen ấy làm cho tình yêu trong bài thơ trở nên lớn lao mà vẫn gần gũi, thiêng liêng mà vẫn rất người.
Gửi người vợ miền Nam không chỉ là lời nhắn gửi riêng tư, mà là tiếng nói của hàng triệu con người Việt Nam từng yêu, từng chờ đợi, từng chịu đựng trong những năm tháng đất nước chia đôi. Đó là một bài thơ đau, nhưng không tuyệt vọng; dài, nhưng không mệt; bi thương, nhưng luôn hướng về ngày đoàn viên tất yếu.
Bài thơ "Gửi vợ miền Nam" của Nguyễn Bính là một bản trường ca bằng thơ lục bát, ra đời vào tháng 7/1956 – thời điểm mà niềm hy vọng về một cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève đang bị lung lay bởi sự chia cắt hai miền.
Dưới đây là phần đọc hiểu chi tiết để giúp bạn nắm bắt trọn vẹn giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
1. Hoàn cảnh sáng tác và Cảm xúc chủ đạo
Hoàn cảnh: Sau năm 1954, những người con miền Nam tập kết ra Bắc, để lại gia đình, vợ con với lời hẹn hai năm sẽ trở về. Nhưng sự bội ước của kẻ thù đã khiến đôi miền chia cắt.
Cảm xúc chủ đạo: Niềm thương nhớ da diết của người chồng (ở miền Bắc) gửi cho vợ (ở miền Nam), lòng căm thù giặc tàn ác và khát vọng cháy bỏng về ngày thống nhất, đoàn viên.
2. Phân tích nội dung chính
A. Ký ức về tình yêu và gia đình (Phần đầu)
Nguyễn Bính đã dành những vần thơ ngọt ngào nhất để gợi lại kỷ niệm. Tình yêu của họ nảy nở trong kháng chiến:
Cuộc gặp gỡ: Đơn sơ nhưng đậm chất Nam Bộ với "bóng dừa", "thuyền ghé bến", "mẹ cho không"
Sự gắn kết: Tình yêu cá nhân hòa quyện chặt chẽ với tình yêu nước ( "Thù nhà nợ nước đôi đằng vẹn đôi")
Đứa con đầu lòng: Bé Hương Mai ra đời giữa tiếng bom đạn, lớn lên trong sự che chở của mẹ già và sự dũng cảm của người vợ.
B. Thực tại chia cắt và tội ác của kẻ thù (Phần giữa)
Đây là đoạn thơ đau xót và dữ dội nhất, phơi bày hiện thực miền Nam dưới ách thống trị:
C. Khát vọng và viễn cảnh ngày thống nhất (Phần kết)
Bài thơ khép lại bằng một giấc mơ rực rỡ và hạnh phúc:
Lời thề son sắt: "Muối đã mặn ba năm còn mặn / Gừng đã cay chín tháng còn cay".
Bức tranh tương lai: Con được gặp Bác Hồ, mẹ vãn cảnh chùa Ngọc Sơn, cả gia đình dạo bước giữa Sài Gòn.
Biểu tượng: Hình ảnh "trăng mọc tròn như mâm vàng" ở cuối bài thể hiện sự viên mãn, trọn vẹn của đất nước và tình cảm lứa đôi.
3. Đặc sắc nghệ thuật
Thể thơ lục bát: Nguyễn Bính sử dụng thể thơ truyền thống một cách điêu luyện, tạo âm hưởng tâm tình, thủ thỉ như lời tâm sự, dễ đi vào lòng người.
Ngôn ngữ: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự mộc mạc của ca dao (muối mặn, gừng cay) và sự sắc sảo của bút pháp hiện thực.
Cấu trúc đối lập: Đối lập giữa Bắc - Nam (hòa bình - lửa cháy), giữa Quá khứ - Hiện tại - Tương lai để làm nổi bật chủ đề tư tưởng.
4. Ý nghĩa thông điệp
Bài thơ không chỉ là tiếng lòng riêng của Nguyễn Bính mà là tiếng nói chung của hàng vạn gia đình tập kết. Nó khẳng định một chân lý: Tình cảm gia đình và tình yêu đôi lứa chính là sức mạnh tinh thần to lớn để người lính vững tay súng, người dân vững niềm tin vào ngày mai thống nhất.
Thư một bức nghìn lời tâm huyết
Đêm canh dài thức viết cho em.
Bồi hồi máu ứ trong tim
Chảy theo ngòi bút hiện lên thư này.
Thư mọc cánh thư bay khắp ngả
Rộn muôn lòng, hoa lá xôn xao
Thư đi núi thẳm đèo cao
Bay qua giới tuyến đậu vào tay em
Em bắt được hàng đêm em đọc
Cánh thư vàng em thuộc từng câu
Ru con thềm vắng canh thâu
Nghe trong tiếng hát tình nhau thơm lành
Nhớ lại buổi chúng mình gặp gỡ
Xanh bóng dừa bỡ ngỡ nhìn nhau.
Cắn môi chẳng nói lên câu
Ai hồng đôi má nghiêng đầu làm thinh.
Đường công tác thuyền anh ghé bến
Anh ngập ngừng em thẹn quay đi
Mẹ cười mẹ chẳng nói chi
Đã người kháng chiến mẹ thì cho không
Khỏi mai mối, cũng không lễ lạt
Đám cưới mình tiếng hát vang sông
Trầu xanh têm với vôi hồng
Đêm trăng xuân ấy vợ chồng sánh đôi..
Gia đình em mười người giặc giết
Tám năm ròng nối tiếp khăn tang.
Thương anh mẹ nghĩ thêm rằng:
Thù nhà nợ nước đôi đằng vẹn đôi..
Đời chiến đấu thêm tươi thêm đẹp
Thêm mặn nồng thắm thiết thơ anh.
Lứa đôi tuổi trẻ đầu xanh
Trọn tình yêu nước, vẹn tình yêu nhau
Trăng hè giãi sáng màu áo cưới
Gió hương bay hoa bưởi thơm lừng
Ghé tai em báo tin mừng:
"Nói riêng anh biết, anh đừng khoe ai!"
Trải chín tháng mười ngày mong mỏi
Sớm đầu xuân ấy buổi khai hoa
Hương Mai tên xóm quê nhà
Vợ chồng liền đặt con là Hương Mai
Anh nghỉ phép đôi ngày đốn củi
Em chong đèn đốt muỗi cho con.
Chuyền tay chồng nựng vợ hôn
Tổ êm biếc bóng cây vườn đung đưa..
Buổi trứng nước con chưa rụng rốn
Máy bay quần vẫn loạn tiếng bom
Em thì tuần cữ còn non
Một ngày bốn lượt ôm con xuống hầm
Lửa giặc cháy đỏ bầm thân cột
Xe giặc càn tím ruột đồng xanh
Con thơ giấc ngủ không lành
Mếu thầm từng chập, giật mình từng cơn.
Mẹ tất tưởi giục con giục rể
Thôi cửa nhà mẹ kể như không
Đương đêm mẹ tắt đường đồng
Tay ôm thóc giống tay bồng cháu thơ
Ngợp bóng lá rừng thưa lay động
Cháy ruột chờ tiếng súng quê ta
Hai hôm mẹ đã nhớ nhà
Nghĩ thương con lợn con gà đói ăn.
Mũi chông nhọn giăng giăng nửa bước
Lưỡi dao dài chém, gọt đầu Tây
Thâu đêm đuốc sáng đường cày
Dân làng đào huyệt vùi thây quân thù.
Vách lá mới tươi cờ Tổ quốc
Xuồng hành quân mát nước sông xa
Mẹ ngồi thức mấy canh gà
Gói thêm bánh tét gửi ra chiến trường
Anh tập kích hạ đồn Ngã Bảy
Em vần công phát rẫy Kinh Ba
Hương Mai quấn quýt bên bà
Mẹ cưng cháu nhỏ tuổi già thêm vui..
Lửa Điện Biên đỏ trời phương Bắc
Gió hòa bình thổi mát xóm thôn
Em vâng tiếng gọi nước non
Đưa anh theo bóng cờ son lên đường.
Em trở giấc trăng nghiêng nửa gối
Mẹ chống rèm, sương gội vườn cam
Ngước trông một mảnh trời Nam
Ngôi sao Bắc Đẩu ngày càng tỏ thêm.
Mẹ chân cứng đá mềm chờ đợi
Em khăng khăng đứng mũi chịu sào
Chín năm xương trắng máu đào
Lẽ đâu lại chịu công lao dã tràng.
Bọn buôn máu cam làm nô lệ
Rước thằng đao phủ Mỹ vào nhà
Miền Nam yêu quý đôi ta
Vườn cam ruộng lúa thành ra pháp trường
Chợ Mỹ Lược khăn tang trắng xóa
Đập Vĩnh Trinh cánh quạ đen ngòm
Khe A Chê máu đỏ lòm
Lệ rơi xuống bến Thu Bồn chứa chan
Em chẳng được đi bàn đi họp
Con hết mong nhảy nhót nô cười
Mẹ già ôm cháu nghẹn lời
Bóng đen quỷ sứ che trời âm u
Người đang gặt bỗng tù bỗng tội
Người đang ăn chết vội chết vàng
Người vừa đưa bạn sang ngang
Mái chèo chưa ráo hồn oan đã lìa
Người mẹ trẻ gần kỳ sinh nở
Đêm ngồi may áo lụa cho con
Sáng ngày chết gục đầu thôn
Cái thai trong bụng nghe còn đạp đây
Em mười bảy cổ tay trắng nõn
Lựa chỉ thêu thầm chọn người thương
Lõa lồ phơi xác bên đường
Tay em còn nắm chặt vuông khăn hồng
Lớp mới giảng nó giằng xé vở
Chùa mới xây nó gỡ đem đi
Nó tung thuốc độc bùa mê
Cấm ngăn thương nhớ cắt chia ruột rà
Anh đã thấy mẹ già mạnh bước
Gậy vững tay trong cuộc tuần hành
Thấy em trong đám biểu tình
Má đào ửng đỏ mắt xanh sáng ngời
Muôn tiếng thét cùng đòi thống nhất
Muôn lời hô phải lập hiệp thương
Đôi bờ một dải Hiền Lương
Phải cho chung bến liền đường Bắc Nam
Cho Sa Đéc thơm cam Bố Hạ
Cho Hải Phòng đẹp lụa Tân Châu
Núi sông sát cánh kề đầu
Ruộng đồng bát ngát một màu lúa xanh
Anh đã thấy con mình thơ bé
Quấn cờ son bảo vệ lấy cờ
Đồng bào từ chuyện tóc tơ
Phanh phui kế hiểm ngăn ngừa mưu sâu
Mấy gian khổ chẳng nao dạ sắt
Bao tù đày chẳng tắt niềm tin
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Cau nở bẹ dừa tơ lớn đọt
Xoài thơm hương cam ngọt trĩu cành
Cây vườn ngày một thêm xanh
Trái ngon thêm ngọt chờ anh trở về
Dạ canh cánh tình kia nghĩa nọ
Mắt đăm đăm ngoài đó trong này
Lòng ta biển rộng sông dài
Tát hoài chẳng cạn chảy hoài chẳng ngưng
Muối đã mặn ba năm còn mặn
Gừng đã cay chín tháng còn cay
Lời thề năm ấy còn đây
Còn ta ta phải còn ngày đoàn viên
Giấc mộng đẹp qua nghìn vạn dặm
Gối chăn này vẫn ấm hơi em
Đầu cành ríu rít tiếng chim
Giật mình trông hút bóng em xa dần
Trải ngày tháng trăng xuân gió hạ
Giấc chiêm bao nhắc nhở anh hoài
Mây đen còn nửa phương trời
Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi riêng anh
Tin trong ấy đấu tranh thắng lợi
Nghe mà mừng như cởi ruột gan
Một lòng bắc cũng như nam
Có em trong ấy anh càng vững tâm
Ta những tưởng hai năm đoàn tụ
Mà vì đâu để lỡ hẹn hò
Vì ai tháng đợi năm chờ
Hồng thưa nhạn vắng đôi bờ cách ngăn
Ai chia rẽ kẻ Nam người Bắc?
Mảnh trăng tròn ai cắt làm đôi?
Ai làm máu đổ, lệ rơi?
Ai đang rấp ngõ, ai xui phá cầu?
Vui đất Bắc còi tàu, xưởng máy
Loạn miền Nam lửa cháy rui nhà
Ngoài này đẹp lúa tươi hoa
Thương em trong ấy khổ ba bốn tầng
Đoàn trẻ nhỏ bước chân lẫm chẫm
Mặt hồ Gươm lấm tấm hoa ngâu.
Quản chi sóng cả sông sâu
Tay ta lại bắc nhịp cầu ta qua.
Cầu nối nhịp duyên ta tròn vẹn
Dòng Hiền Lương mát bến xuôi đò
Con sông vẫn đẹp đôi bờ
Tấm lòng có một cơ đồ không hai.
Thư em viết mấy lời thắm thiết
Ấm lòng anh chi xiết mấy mươi
"Giữa mùa lúa chín hoa tươi
Anh tin tưởng thế, em người vợ anh".
Nghĩ đến buổi nước mình thống nhất
Lệ tuôn trào khoé mắt rưng rưng
Dạt dào trăm nhớ ngàn thương
Anh về hoa nở con đường thênh thênh
Anh sẽ đón gia đình ra Bắc
Vợ chồng mình dạo khắp thủ đô
Con ta được gặp Bác Hồ
Mẹ ta được vãn cảnh chùa Ngọc Sơn.
Xe lửa ghe nông trường Phú Thọ
Tàu thuỷ thăm vùng mỏ Quảng Yên
Tám thơm cũng thể nàng tiên
Sen Hồ Tây ngát như sen Tháp Mười
Vui sum họp mẹ tươi trẻ lại
Mừng đoàn viên em mãi đẹp ra
Rõ ràng giáp mặt đôi ta
Đắng cay trải đấy, mặn mà xiết bao.
Cùng ôn lại năm tao bảy tuyết
Càng xa nhau càng biết lòng nhau
Mấy thu nắng lửa mưa dầu
Tâm tình vẫn thắm mái đầu vẫn xanh
Cùng trở lại quê mình vườn cũ
Dấu đạn thù còn trổ thân cây
Nhà ta ta lại sum vầy
Lại gieo mạ nếp, lại gây giống dừa
Con mỗi buổi học về múa hát
Đêm trăng vàng ngan ngát hương cau
Mẹ già ngừng giã cối trầu
Mỉm cười nhẩm tính tháng nào em sinh?
Vườn xanh tốt đâm cành nảy lộc
Hoa đầy vườn chim chóc đến bay.
Em mà nằm cữ chuyến này
Khỏi lo con chạy máy bay giặc ruồng
Con bé bỏng thơm ngon giấc ngủ
Hé môi non cười nụ hồng hồng
May hơn chị nó đầu lòng
Nó sinh gặp lúc non sông yên lành
Đời thêm đẹp mối tình thêm thắm
Nắng nông trường đỏ sẫm da cam
Tháng giêng lúa trĩu bông vàng
Em trên máy giặt khăn rằn gió bay.
Chiều chủ nhật xanh mây biếc gió
Tay nắm tay đi giữa Sài Gòn
Lo màu chọn kiểu áo con
Sách in nét chữ tươi giòn thơ anh.
Ngày kỷ niệm hòa bình hạnh phúc
Anh thả bè thuỷ lục tươi hoa
Làng trên xóm dưới vui ca
Mặt sông pháo nổ, mái nhà sao bay.
Mẹ đi hội vui bầy cháu nhỏ
Em bên anh má đỏ bóng cờ
Tưng bừng tiếng trúc tiếng tơ
Đầu thôn trăng mọc tròn như mâm vàng..
Hà Nội, 7 - 1956
Nguyễn Bính
Trích đoạn bài thơ này được sử dụng trong sách giáo khoa Tập đọc lớp 4.
Cảm nhận bài thơ Gửi người vợ miền Nam – Nguyễn Bính
Gửi người vợ miền Nam là một bài thơ rất dài, nhưng không hề loãng. Trái lại, càng đọc càng thấy dày lên cảm xúc, dày lên lịch sử và dày lên tình người. Đây không chỉ là một bức thư tình, mà là một thiên trường ca về tình yêu vợ chồng hòa trong vận mệnh dân tộc, về hạnh phúc riêng gắn chặt với nỗi đau chung của đất nước bị chia cắt.
Điều lay động nhất trong bài thơ là sự thủy chung son sắt. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính không tách rời hiện thực khốc liệt của chiến tranh, không né tránh máu lửa, mất mát, chia ly. Người vợ miền Nam hiện lên vừa là người phụ nữ của gia đình, vừa là hình ảnh tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam thời loạn: chịu đựng, kiên cường, dấn thân, và trung trinh tuyệt đối với cả tình yêu lẫn Tổ quốc. Người chồng ở miền Bắc không chỉ nhớ thương, mà còn gửi vào từng dòng thơ niềm tin, lời thề và khát vọng đoàn viên.
Bài thơ khiến người đọc xúc động bởi sự đan xen giữa những khoảnh khắc rất đời thường – cưới hỏi, sinh con, bếp lửa, nồi cháo, mùi hoa bưởi – với những cảnh tượng tàn khốc của chiến tranh, bom đạn, tù đày, máu đổ. Chính sự đan xen ấy làm cho tình yêu trong bài thơ trở nên lớn lao mà vẫn gần gũi, thiêng liêng mà vẫn rất người.
Gửi người vợ miền Nam không chỉ là lời nhắn gửi riêng tư, mà là tiếng nói của hàng triệu con người Việt Nam từng yêu, từng chờ đợi, từng chịu đựng trong những năm tháng đất nước chia đôi. Đó là một bài thơ đau, nhưng không tuyệt vọng; dài, nhưng không mệt; bi thương, nhưng luôn hướng về ngày đoàn viên tất yếu.
Đọc hiểu bài thơ:
Bài thơ "Gửi vợ miền Nam" của Nguyễn Bính là một bản trường ca bằng thơ lục bát, ra đời vào tháng 7/1956 – thời điểm mà niềm hy vọng về một cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Genève đang bị lung lay bởi sự chia cắt hai miền.
Dưới đây là phần đọc hiểu chi tiết để giúp bạn nắm bắt trọn vẹn giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
1. Hoàn cảnh sáng tác và Cảm xúc chủ đạo
Hoàn cảnh: Sau năm 1954, những người con miền Nam tập kết ra Bắc, để lại gia đình, vợ con với lời hẹn hai năm sẽ trở về. Nhưng sự bội ước của kẻ thù đã khiến đôi miền chia cắt.
Cảm xúc chủ đạo: Niềm thương nhớ da diết của người chồng (ở miền Bắc) gửi cho vợ (ở miền Nam), lòng căm thù giặc tàn ác và khát vọng cháy bỏng về ngày thống nhất, đoàn viên.
2. Phân tích nội dung chính
A. Ký ức về tình yêu và gia đình (Phần đầu)
Nguyễn Bính đã dành những vần thơ ngọt ngào nhất để gợi lại kỷ niệm. Tình yêu của họ nảy nở trong kháng chiến:
Cuộc gặp gỡ: Đơn sơ nhưng đậm chất Nam Bộ với "bóng dừa", "thuyền ghé bến", "mẹ cho không"
Sự gắn kết: Tình yêu cá nhân hòa quyện chặt chẽ với tình yêu nước ( "Thù nhà nợ nước đôi đằng vẹn đôi")
Đứa con đầu lòng: Bé Hương Mai ra đời giữa tiếng bom đạn, lớn lên trong sự che chở của mẹ già và sự dũng cảm của người vợ.
B. Thực tại chia cắt và tội ác của kẻ thù (Phần giữa)
Đây là đoạn thơ đau xót và dữ dội nhất, phơi bày hiện thực miền Nam dưới ách thống trị:
- Sự chia cắt: Hình ảnh "Dòng Hiền Lương", "Mảnh trăng tròn ai cắt làm đôi" tượng trưng cho nỗi đau ngăn sông cách núi.
- Tội ác: Tác giả liệt kê những địa danh đẫm máu (Mỹ Lược, Vĩnh Trinh, Khe A Chê) và những hình ảnh gây chấn động: Cụ già bị tù tội, người mẹ trẻ chết gục khi thai còn đạp, cô gái mười bảy bị hãm hại..
- Sức mạnh quật khởi: Dù đau thương, người vợ và mẹ già vẫn kiên cường trong các cuộc biểu tình, "đứng mũi chịu sào" chờ ngày giải phóng.
C. Khát vọng và viễn cảnh ngày thống nhất (Phần kết)
Bài thơ khép lại bằng một giấc mơ rực rỡ và hạnh phúc:
Lời thề son sắt: "Muối đã mặn ba năm còn mặn / Gừng đã cay chín tháng còn cay".
Bức tranh tương lai: Con được gặp Bác Hồ, mẹ vãn cảnh chùa Ngọc Sơn, cả gia đình dạo bước giữa Sài Gòn.
Biểu tượng: Hình ảnh "trăng mọc tròn như mâm vàng" ở cuối bài thể hiện sự viên mãn, trọn vẹn của đất nước và tình cảm lứa đôi.
3. Đặc sắc nghệ thuật
Thể thơ lục bát: Nguyễn Bính sử dụng thể thơ truyền thống một cách điêu luyện, tạo âm hưởng tâm tình, thủ thỉ như lời tâm sự, dễ đi vào lòng người.
Ngôn ngữ: Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự mộc mạc của ca dao (muối mặn, gừng cay) và sự sắc sảo của bút pháp hiện thực.
Cấu trúc đối lập: Đối lập giữa Bắc - Nam (hòa bình - lửa cháy), giữa Quá khứ - Hiện tại - Tương lai để làm nổi bật chủ đề tư tưởng.
4. Ý nghĩa thông điệp
Bài thơ không chỉ là tiếng lòng riêng của Nguyễn Bính mà là tiếng nói chung của hàng vạn gia đình tập kết. Nó khẳng định một chân lý: Tình cảm gia đình và tình yêu đôi lứa chính là sức mạnh tinh thần to lớn để người lính vững tay súng, người dân vững niềm tin vào ngày mai thống nhất.

